Đường tới Bản
Từ trung tâm thị trấn Hoà Bình tôi bắt xe ôm theo con đường công trình thủy điện bản Vẽ chừng hơn 20 km. Từ đây đón thuyền gắn máy, bắt đầu cho cuộc hành trình tìm lên cái chữ trên đỉnh Trường Sơn. Đó là bản Tụng Hốc II, một trong những bản thuộc diện khó khăn và xa nhất của xã Hưu Khuông - Tương Dương - Nghệ An. Bản chỉ có 27 hộ người dân tộc Mông sinh sống.
Sau sáu giờ ngồi thuyền, tôi mới tới được bản Xiêng Lằm (Trung tâm của xã Hữu Khuông). Thật may mắn khi tới đây tôi gặp được các thầy Vi Văn Nút, Lương Văn Thiên, Lương Văn Hương và Vi Văn Cảng là những người hiện đang công tác giảng dạy tại bản Tụng Hốc I và II. Tranh thủ ngày nghỉ, các thầy về thăm nhà, vừa đến trước tôi ít phút và đang nghỉ tại nhà ông Vi Hoài Minh -Bí thư xã.
4 giờ sáng hôm sau, chúng tôi lên đường. Vì là ngày thứ Hai nên các thầy muốn có mặt tại trường sớm tổ chức lễ chào cờ. Từ bản Xiêng Lằm, phải mất gần năm giờ đồng hồ men và vượt qua nhiều con suối trong ánh đuốc và đèn pin chúng tôi mới tới được bản Tụng Hốc I. Từ đây để đến được Trường Tiểu học Tụng Hốc II còn phải leo qua một con dốc dài và dựng . Vượt dốc dưới trời mưa nên tôi không dưới 20 lần phải “đo độ cao”. Trước cuộc hành trình thầy Vi Văn Nút đã bảo tôi không nên đi giày mà nên mua một đôi dép “chuyên dụng” (một loại dép nhựa có quai). Thầy Vi Văn Nút bảo: “Ngày trước, chúng tôi cũng như anh, chừ đi lắm thì cũng quen thôi”. Tuy nói vậy chứ tôi thấy thầy nào cũng phải sắm cho mình một chiếc “gậy Trường Sơn”.
Trên đường leo dốc tôi được nghe các thầy kể về sự tích con dốc, vì sao người ta gọi là “dốc Đói”. Chuyện là kỉ niệm của thầy Lương Thanh Hương công tác tại Trường Tụng Hốc II. Trong một lần về thăm nhà lên muộn, sợ muộn giờ lên lớp thầy đã không kịp gói cơm mang theo. Đến lúc vượt dốc vì đói nên kiệt sức sớm không còn đủ sức leo tiếp. May mà trong chuyến đi có người anh rể thày đi cùng. Người anh khoẻ hơn nên đi được tới bản và xin cơm xuống cho ăn, thầy mới đủ sức leo tiếp. Lên đến nơi kể cho bà con nghe, ai cũng cười và từ đó người ta gọi con dốc này là… “dốc Đói”. Câu chuyện khó tin nhưng là chuyện có thực ở miền sơn cước hoang vu này.
 |
| Vượt dốc “Đói“ |
Vậy nên ai muốn tìm về Tụng Hốc II phải luôn nhớ mang theo mình một nắm cơm và một ít nước uống, nếu không khó mà qua được “dốc Đói”. Những người dân sống ở đây thường khi đi tới chân dốc là họ tìm đến “mâm cơm đá” ngồi nghỉ và ăn cơm để lấy sức leo núi. Và tôi cũng được các thầy đưa đến bên “mâm cơm ” để ăn nắm xôi, uống tạm miếng nước lấy sức cho cuộc hành trình về bản.
Sau hơn ba giờ chinh phục “dốc Đói”, hiện ra trước mặt chúng tôi là cả một màu trắng xoá của sương mù bao phủ, nhà cửa chỉ lờ mờ trước mắt. Thấy tôi bàng hoàng trước vẻ âm u huyền bí của bản làng, thấy Thiên cười: “Ở đây là như vậy đó, sương mù bao phủ quanh năm, hiếm khi thấy mặt trời lắm. May ra chỉ những ngày hè, nhưng cũng phải tới lúc đứng bóng thì chúng tôi và bà con dân bản mới thấy được ông mặt trời. Về mùa đông, nước đóng băng là chuyện thường”.
 |
| Nghỉ chân để lấy sức đi tiếp |
Vậy là để tới được Tụng Hốc II, từ trung tâm thị trấn Hoà Bình tôi đã phải mất hơn 10 giờ đồng hồ.
Cõng chữ lên non
Ông Kha Văn Mon – phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học xã Hữu Khuông cho biết, theo quyết định của phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Tương Dương,Tụng Hốc chỉ thành lập một trường tiểu học cho ba bản Tụng Hốc I, Tụng Hốc II và Phá Moọc. Thế nhưng do điều kiện đi lại quá khó khăn đối với hai bản Tụng Hốc II và Phá Moọc nên dân bản đã xin mở thêm cơ sở II tại bản Tụng Hốc II. Năm 1998, trường Tiểu học Tụng Hốc II được thành lập và người thầy đầu tiên “cõng cái chữ” tới với bà con là thầy Vi Văn Nút.
Sau khi tốt nghiệp Trường Sư hạm Kì Sơn, thầy Nút được phân công về giảng dạy ở Trường Tiểu học Tụng Hốc II . “Ngày nhận được quyết định, mình biết sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn “sốc”. Ngày đầu tìm tới bản, không nghĩ mình phải leo lên một con dốc dài đến thế. Bụng đói, cổ khát khô và trời đã bắt đầu tối mà vẫn chưa nhìn thấy bản làng ở đâu. Vừa lo, vừa sợ. May lúc đó có tiếng gà gáy vẳng tới thì mình mới biết là sắp tới bản rồi. Nhưng khi tới bản lại chỉ gặp toàn chị em con gái Mông. Khổ nỗi họ lại không biết nói tiếng phổ thông hay là tiếng Thái, tiếng Khơ Mú nên khi mình hỏi gì họ cũng không hiểu mà chỉ thấy nói “Chi pảu, chi pảu – không biết, không biết”. Mãi về sau mới thấy một người đàn ông đi tới và hỏi mình bằng tiếng phổ thông lúc đó mình mừng như nhặt được vàng. Hỏi ra mới biết đó là ông Và Bá Thông – Bí thư bản Tụng Hốc”. Thầy Nút kể lại.
Khi thầy Vi Văn Nút tới nhận công tác thì mới chỉ có duy nhất lớp 1. Trường là một căn nhà tranh nhỏ, bàn ghế là những tấm ván cũ kê tạm bợ được bà con dân bản giúp sức dựng nên, còn nhà ở cho giáo viên chưa có. Thầy Nút kể lại: “Những ngày đầu tôi sống trong gia đình anh Xồng Nhịa Phỏng. Nhưng về sau thấy nhà anh đông người, tôi xin bà con giúp mình dựng tạm một căn lều nhỏ gần trường. Những ngày sống một mình rất buồn, có những đêm không ngủ được vì vừa buồn lại vừa sợ… ma. Nhiều khi muốn bỏ về nhưng nghĩ thương các em. Các em rất thích học cái chữ và ngoan lắm. Nếu chỉ vì cái buồn, cái sợ mà bỏ về thì tội các em. Chừ mình đã quen với cuộc sống ở đây và đã học nói được tiếng người Mông nên việc tiếp xúc và gặp gỡ bà con đã rất thuận tiện, không như ngày đầu cứ hỏi hay nói gì đều là “Chi pảu, chi pảu”.
Đến năm 1999 – 2000, trường có thêm lớp 2 và lúc này theo sự phân công của Hiệu vụ trường Tiểu học xã Hữu Khuông, thầy Nút được chuyển xuống dạy ở trường Tụng Hốc I và lên thay là các thầy Lương Văn Thiên và Vi Văn Lợi. Mặc dù đã hỏi thăm thấy Nút khá nhiều, mà các thầy vẫn gặp chuyện không ngờ. Thầy Thiên kể lại: “Mình và thầy Lợi đã phải nhịn đói một ngày rưỡi vì khi tụi mình lên đến nơi thì đàn ông con trai trong bản lại đi vắng, chỉ còn chị em phụ nữ ở nhà nên họ không dám cho gạo, cho cơm. Mãi sau mới xin được ba củ sắn về luộc. Đói mà lại ăn sắn nên hai anh em say lộn ruột. Giờ nghĩ lại vẫn thấy say say…”.
Từ năm học 2000 – 2001 đến nay trường đã có đủ 5 lớp tiểu học với tổng số 31 em. Và theo sự phân công của Hiệu vụ, mỗi năm có sự luôn phiên thay đổi giảng dạy giữa sáu giáo viên của trường Tụng Hốc I và II là các thầy: Vi Văn Nút, Vi Văn Lợi, Lương Thanh Hương, Lương Văn Thiên, Vi Văn Thắng, Vi Văn Cảng.
Nhọc nhằn cái chữ vùng cao
Do phải tách ra làm hai cơ sở để các con em hai bản Tụng Hốc I, II và bản Phá Mọc thuận tiện đi học nên mỗi trường đều do ba thầy đứng cả 5 lớp (học ghép). Chính vì vậy các thầy gặp không ít khó khăn trong việc dạy cũng như các học sinh tiếp thu bài. Ngôi trường chỉ có 3 phòng học, mỗi lớp chỉ có từ 2 -3 bộ bàn ghế. Tài sản đáng giá nhất của trường đó là những cuốn sách rất cũ (đã dùng 4 năm nhưng chưa được đổi sách mới) với chiếc trống trường đã gần thủng.
“Cơ sở vật chất thiếu thốn, trời thì luôn tối, nhiều hôm ngồi trong lớp mà như ngồi trong màn đêm, thầy và trò còn khó nhìn thấy nhau nói gì đến việc viết lên bảng cho các em đọc. Ngoài ra không những luôn phải đảm bảo số tiết của hai chương trình một lúc (10 tiết/một lớp học ghép) mà còn phải đảm bảo cả chất lượng. Ở đây chúng tôi dạy theo cách nếu lớp 2 học chính tả thì lớp 3 sẽ làm toán và lớp 4, lớp 5 cũng vậy. Mặc dù việc học chính tả của lớp này ít nhiều làm ảnh hưởng việc học toán của lớp khác; nhưng được cái các em rất thích học và ngoan nên tiếp thu bài khá tốt”.Thầy Vi Văn Nút nói.
Để chứng thực cho lời nói của thầy, tôi bước tới một em và bảo em hãy viết theo câu “Xuân về trên bản làng” (ghi trên bảng). Chữ của em thật tròn, ngay ngắn và rất đúng chính tả. Chữ của em viết đẹp không kém gì (nếu không muốn nói là hơn) các em ở miền xuôi có điều kiện học hơn các em.
- Em tên gì? – Khi em viết xong, tôi hỏi.
- Dạ, em tên Và Y Cớ.
Cớ cho biết, em học lớp 2. Nhà ở Phá Mọc, đi học khá xa, phải mất 2 tiếng đồng hồ mới tới trường. “Có mệt không?”- tôi lại hỏi. Em trả lời: “Có mệt, nhưng được đi học thích lắm thầy ạ!”. Tôi quay sang cả 2 lớp hỏi: “Các em đi học biết cái chữ, biết viết, biết đọc có thích không?”. Cả lớp đồng loạt trả lời: “Có ạ! Thích lắm, thích hơn ở nhà nhiều lắm”.
Thầy Nút cho tôi biết, kể từ ngày trường được thành lập đến giờ, mới chỉ có một trường hợp bỏ học, chỉ vì gia đình quá khó khăn, vả lại thường không ổn định chỗ ở.
“Phải cho con em ta học cái chữ”
Sau buổi học, tôi tìm đến nhà ông Và Bá Thông – Bí thư bản Tụng Hốc. Khi tôi hỏi ông về suy nghĩ của bà con dân bản về những người thầy đã “cõng” cái chữ, ông nói trong xúc động: “Người Mông ta cảm ơn Đảng, cảm ơn Nhà nước, cảm ơn các thầy nhiều lắm. Công ơn các thầy lớn lắm, nhờ các thầy con em ta đã biết cái chữ, biết viết, biết đọc sách, đọc báo cho bố mẹ nghe. Dân bản ta ai cũng thích lắm. Dân bản ta coi các thầy cũng như là người bản ta đó anh.”.
Còn anh Và Bá Dị: “Bốn đứa con ta đều được đi học cả, hai đứa đang học ở trung tâm xã Xiêng Lằm còn hai đứa đang học với các thầy đây. Các con ta được đi học giờ nó khôn ra nhiều lắm, nó được học biết được nhiều thứ về nhà nói cho vợ chồng ta nghe thích lắm. Ta không được học nên nhiều cái ta không biết mà!”.
Tôi cùng các thầy giáo đến nhà già làng Và Xay Lỳ. Khi thấy các thầy đến nhà chơi già vui ra mặt, già chạy đi chạy lại lấy mọi thứ để mời các thầy. Theo phong tục người Mông khách quý thường được xếp ngồi lên hàng ghế phía trên và phải mang rượu ngon ra tiếp. Nên tôi vừa có dịp nhâm nhi chén rượu sắn với thịt lợn hun khói vừa nghe già bộc bạch tâm tư: “ Cán bộ ơi! Các thầy ơi! Ta vui lắm, con em ta đã biết cái chữ, biết đọc, biết viết, biết nhiều thứ. Bản ta đổi mới rồi, dân ta không còn bị mù cái chữ nữa. Ngày xưa ta không được đi học, nên ta không biết đọc, biết viết ta tức lắm… Cuộc sống cứ thay đổi nay đây mai đó theo nương theo rẫy. Giờ phải định cư một chỗ thôi, không đi đâu nữa. Ta phải cho con em ta đi học không để nó mù cái chữ, cái viết như cha ông của nó”.
Sau khi được già Lý mời lại dùng bữa cơm, tôi chia tay xuống núi. Khi vừa tới trường để lấy hành trang tôi đã thấy các em học sinh nhà ở gần trường cùng ba thấy giáo đang đứng chờ ngoài để tiễn tôi. Các em ríu rít chào: “Chúng em chào thầy ạ! Thầy đi đường khỏe cái chân nha”. Riêng em Và Y Cớ chạy đến nắm tay tôi nói: “Hôm nào, thầy nhớ quay lại thăm trường em nhé! Đừng quên trường em nhé, thầy ơi!”. Chân bước xuống núi nhưng khi nhìn lên thấy các em vẫy tay chào và nghĩ đến các em tôi lại thấy lòng mình chảy ngược./.